Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ: Sẽ đạt 51,5 tỷ USD

Đánh giá của ông về mối quan hệ hợp tác thương nghiệp và đầu tư giữa Việt Nam - Hoa Kỳ? Các nhịp và thách thức đối với một số lĩnh vực cụ thể?

Hiệp định thương nghiệp song phương (BTA), và việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương nghiệp Thế giới (WTO) đã tạo ra nhịp lớn cho các doanh nghiệp và người lao động của cả hai nước.

Đã có sự chuyển biến mạnh mẽ và ổn định về thương nghiệp giữa hai nước, và hơn nữa là sự mở rộng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Hoa Kỳ vào Việt Nam. Thương nghiệp song phương đã tăng từ 1,5 tỷ USD năm 2001 lên 24.9 tỷ USD trong năm 2012. Với xu hướng rất khả quan như hiện giờ, dự đoán thương mại song phương sẽ đạt 51,5 tỷ USD vào năm 2020. Đáng để ý, hàng may mặc chiếm khoảng 40% tổng số hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, và hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam với thế giới. Thành thử, may mặc đã, đang, và sẽ là một lĩnh vực quan yếu, tạo cơ hội cho kim ngạch xuất khẩu, việc làm cho hàng triệu lao động, chuyển giao công nghệ, và một nền tảng tốt cho phát triển công nghiệp, kinh tế và tầng lớp.

Tăng trưởng thương nghiệp song phương bị ảnh hưởng lớn bởi FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương, Bộ Kế hoạc & Đầu tư (CIEM), Cục Đầu tư nước ngoài (FIA) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), dự án STAR thời đoạn 2003 đến 2006, vốn FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng mạnh, với vốn đăng ký tăng gần 375%. FDI tăng trưởng mạnh trong các ngành hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ và tăng càng mạnh mẽ sau BTA cho thấy tác động kinh tế rõ ràng nhất của BTA là mở rộng "Quan hệ thương nghiệp thường ngày" đối với hàng hóa giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Về đầu tư, dự án trị giá 1 tỷ USD của Intel vào năm 2006 là một bước khởi đầu quan trọng của FDI Hoa Kỳ vào Việt Nam, đặc biệt hơn, nó còn có ý nghĩa phát động các dự án đầu tư "công nghệ đương đại" ở Việt Nam để xuất khẩu sang các thị trường toàn cầu như: Intel, GE, Honeywell, Jabil, Sandhill Scientific, Datalogic, Spitfire Controls, Spartronics từ Mỹ, cũng như Samsung, Foxconn, Nidec, Canon từ Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), và Nhật Bản. Tính đến tháng 5/2013, tổng FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam đạt 10,5 tỷ USD với 658 dự án; Hiện có nhiều công ty Hoa Kỳ đang kinh doanh tại Việt Nam, trong đó có những công ty lớn, đầu tư lâu dài, ổn định.

Những năm qua, quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp chuyện mở rộng và cải thiện. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa khẩn hoang hết tiềm năng, kết quả cộng tác hoàn toàn có thể khả quan hơn. Nhiều người cho rằng, sau khi gia nhập WTO, quá nhiều sự chú ý và nguồn lực tài chính của Việt Nam đã dành cho bất động sản, chứ không phải để sản xuất, nông nghiệp và dịch vụ, cũng như doanh nghiệp quốc gia, chứ không phải cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hay khu vực tư nhân. Kết quả là, Việt Nam trở nên mất lợi thế, trong khi các nền kinh tế khác trong khu vực ASEAN đang phát triển mạnh mẽ.

Trên tờ Kinh tế Việt Nam số ra gần đây, một đại diện AmCham đã dạn dĩ đưa ra bốn yếu tố hạn chế tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng như thương mại và FDI song phương giữa hai nước. Nếu giải quyết tốt những vấn đề này, hy vọng thương nghiệp và đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ có những bước tiến mới: (1) Chưa thực hành mạnh mẽ các cam kết WTO trong lĩnh vực đầu tư và dịch vụ; (2) Thiếu cơ sở hạ tầng đầy đủ về năng lượng và liên lạc; (3) cách tân cơ cấu doanh nghiệp quốc gia chậm và chưa có sự hỗ trợ thích đáng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với môi trường WTO và (4) Thiếu cần lao có tay nghề cao, khiến khó di chuyển lên chuỗi giá trị ngay cả khi phí tổn lao động tiếp tăng.

Ông nghĩ gì về doanh nghiệp Việt Nam trong mối quan hệ thương nghiệp và đầu tư giữa Việt Nam và các đối tác Hoa Kỳ? AmCham có kế hoạch gì để thúc đẩy thương nghiệp và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ?

Trong thời kì tới, AmCham có kế hoạch tụ họp vào tương trợ hai yếu tố rốt cuộc trong bốn nguyên tố nêu trên là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với môi trường WTO/ TPP; Giáo dục & đào tạo, đặc biệt là đào tạo các kỹ sư và kỹ thuật viên thứ hạng quốc tế. Chúng tôi cũng sẽ hỗ trợ và khuyến khích sự tham dự mạnh mẽ của Việt Nam trong quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương.

Nhiều thành viên thuộc AmCham và các công ty FDI khác cảm thấy khó khăn để xác định các công ty Việt Nam đủ điều kiện trở nên nhà cung cấp cho mình. Nhận giả tảng này, AmCham và các thành viên trong Hiệp hội đang hăng hái hiệp tác với chính quyền địa phương, doanh nghiệp, cũng như các hiệp hội ngành công nghiệp Việt Nam để giúp họ hiểu rõ các yêu cầu cần thiết để hội đủ điều kiện trở thành một nhà cung cấp cho các công ty Hoa Kỳ. Yêu cầu này bao gồm: mã số DUNS - giúp khách hàng xác định được tính pháp lý, khả năng tài chính,… của nhà cung ứng, luận bàn dữ liệu điện tử (EDI), khả năng B2B thương nghiệp điện tử, kiểm toán nhà máy để xác nhận hiệp với chất lượng sản phẩm và các yêu cầu an toàn, lao động, môi trường, phát triển vững bền, nghĩa vụ bảo hiểm sản phẩm … Gần đây, chúng tôi đã làm việc với Câu lạc bộ Doanh nghiệp dẫn đầu (LBC) và Hiệp hội doanh nghiệp Tp. Hồ Chí Minh, cung cấp thông tin này cho các công ty thành viên của họ. Chúng tôi đang có kế hoạch mở hội thảo tại Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Đà Nẵng và Hà Nội.

Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ lệ ngày một tăng trong hàng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong một ngành xuất khẩu quan yếu của Việt Nam là dệt may, tỷ lệ sinh sản tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 25%, trong khi nhập khẩu khoảng 75%. Trong khi đó, kế hoạch chiến lược của Bộ công thương nghiệp là tỷ lệ địa phương hóa sẽ là 50% vào năm 2010, 60% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng dự trong chuỗi cung ứng của Hoa Kỳ nói riêng và toàn cầu nói chung. Trong kế hoạch sắp tới của AmCham nhằm thúc đẩy thương nghiệp và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có màng lưới san sẻ thông báo với các công ty và các hiệp hội Việt Nam, để giúp họ hiểu và đáp ứng các yêu cầu, hội đủ điều kiện trở nên nhà cung cấp cho các công ty Hoa Kỳ.

Rút cục, vấn đề tuyển dụng được các nhân lực lành nghề cho các dự án FDI tại Việt Nam cũng là một khó khăn đối với nhiều thành viên AmCham và các công ty FDI. Để đáp ứng thách thức này, Dự án "Liên minh hiệp tác Giáo dục Đại học ngành kỹ thuật - HEEAP" đã được đưa ra một vài năm trước đây bởi Intel, USAID, Đại học bang Arizona, và các đối tác tại Việt Nam. Giai đoạn tiếp theo của dự án, được gọi là HEEAP 2.0, sẽ được thực hiện trong tuổi 2013-2017, đào tạo kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ cần lao, Thương binh và xã hội. Chúng tôi hy vọng, vào năm 2017, Việt Nam sẽ có các kỹ sư và kỹ thuật viên có thể cạnh tranh với bất kỳ quốc gia nào trong khu vực ASEAN, cũng như trên thế giới.

Xin cảm ơn ông!

Thanh Trúc(thực hiện)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét