Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Chuyển biến nhận thức về tính dân tộc trong văn chương - nghệ thuật.

Là những câu hỏi tuy không mới nhưng lại rất quan thiết tới thực tại sáng tác, sáng tạo văn chương - nghệ thuật

Chuyển biến nhận thức về tính dân tộc trong văn học - nghệ thuật

Nhưng có thể nói rằng, 15 năm qua, với quyết nghị T. Trong thơ, những tìm tòi cực đoan, tâm trạng bế tắc, xa rời truyền thống thơ và ca của dân tộc có phần rõ nét hơn các môn nghệ thuật khác. Nghị quyết cũng giải quyết triệt để vấn đề tính dân tộc và tính hiện đại, một vấn đề lý luận rất thiết yếu trong thời kỳ toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện thời. Chẳng hạn, khái niệm đại chúng nhiều khi được hiểu một cách cứng nhắc nên có một thời gian dài, nhiều sáng tác của chúng ta mang nặng tính hô hào, minh họa, thiếu sức thuyết phục.

Như trên đã mô tả, không thể ngay một lúc tìm được ngôn ngữ thống nhất về tính dân tộc, tính nhân loại, tính đương đại và bản sắc văn hóa. Trong điện ảnh, nhiều băn khoăn về sự cân đối giữa trong và ngoài, chất và lượng. Thế nào tính dân tộc? Quan hệ của nó với tính nhân loại thế nào? Bản sắc dân tộc có mâu thuẫn gì với tính đương đại không?. Thì ngay đến hiện giờ vẫn còn những ý kiến khác nhau.

Thể hiện, phản ảnh, lý giải một cách chân xác những điều đó qua lăng kính chủ quan của nhà văn tức thị đã song song đạt tới tính dân tộc và tính đương đại, hai phạm trù tuy hai mà một, tuy một mà hai trong tác phẩm của mình.

Những liền anh, liền chị quan họ Bắc Ninh đi dự hội làng. Chính trong bối cảnh này, Nghị quyết T. Tính dân tộc và tính đương đại không hề xung đột, mâu thuẫn nhau.

Thu nạp những quan niệm sáng tác mới, thủ pháp mô tả mới, kỹ thuật mới của bên ngoài trong sáng tác của mình hoặc ngược lại, nhào nặn, đổi mới truyền thống để hạp với thị hiếu bên ngoài, nhất là trong âm nhạc, điện ảnh, sàn diễn, múa, kiến trúc. Trong âm nhạc, đó là tình trạng coi nhẹ chất lượng nghệ thuật, thiên về chức năng giải trí. Ư 5 khóa VIII, nền văn chương - nghệ thuật của ta đã có bước tiến dài nhờ những chuyển biến đáng mừng trong tư duy của văn nghệ sĩ, qua đó đã có một bước tiến đáng kể trong hiểu và ứng dụng tính đương đại, tính dân tộc, một phạm trù tưởng quen mà còn rất lạ ở Việt Nam hiện thời.

Ngay từ năm 1943, Đề cương văn hóa Việt Nam đã nêu định hướng của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam là: Khoa học - dân tộc - đại chúng. Trong sân khấu, đó là bế tắc về duy trì nghệ thuật truyền thống trong cuộc sống đương đại. Đây là một quan điểm tiến bộ, khoa học, có tính dẫn đường cho nền văn hóa - văn nghệ dưới sự lãnh đạo của Đảng suốt 68 năm nay.

Trên ý thức nhận thức ngày càng sâu sắc, mang tính cách mệnh về văn hóa, văn chương - nghệ thuật đó, một lần nữa, bản sắc dân tộc và tính nhân loại, tính truyền thống và hiện đại, một trong những vấn đề quan yếu nhất, có tính dẫn đường văn hóa nói chung, trong đó có văn chương - nghệ thuật nói riêng, được đặt ra ở một tầm mức sâu sắc hơn, trực tiếp hơn trong Nghị quyết T.

Bên cạnh những mặt thành tựu, có những vấn đề đã và đang chệch hướng, xuống cấp. Ý kiến nêu trên đã thật sự cởi trói cho nhà văn trong cách nhìn và phản ánh thế giới bữa nay trong bối cảnh khôn cùng phức tạp của hội nhập quốc tế với sự ảnh hưởng của lối sống phương Tây, thị hiếu văn hóa phương Tây và rất nhiều những lý thuyết văn chương - nghệ thuật phương Tây nhập cảng ồ ạt vào Việt nam bình nhiều con đường.

Những hạn chế đó dần được cởi bỏ từ khi Đảng lãnh đạo sơn hà bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, quan niệm về vị trí, vai trò của văn hóa được khẳng định là nền tảng ý thức của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực xúc tiến sự phát triển kinh tế - tầng lớp.

Trong quá trình đổi mới văn học - nghệ thuật, có những lĩnh vực như thơ ca còn có điều kiện đi xa hơn trong thử nghiệm, tuy không phải mọi thể nghiệm đều thành công.

Những tác giả, nhóm tác giả ở cả trong nước và ngoài nước, công khai chối từ truyền thống dân tộc, cổ súy những thị hiếu nhu cầu thấp hèn, làm hỏng ngôn ngữ Việt trong thơ ca chưa được lên án đúng mức và kịp thời.

Cũng với tư duy tiến bộ đó, nhà văn tự tin mở mang khuôn khổ sáng tác, hấp thu nhiều đề tài trước đây ít hoặc gần như bị cấm đề cập như thế giới nội tâm của con người, những vấn đề tâm linh rồi cả tính dục, những vấn đề thuần túy do nhà văn mường tượng, hư cấu nêu ra.

Ư 5 khóa VIII. Khi nhận thức được tính dân tộc là mệnh và đời sống của phần nhiều nhân dân, dân tộc đó trong thế giới hiện đại, cách cảm, cách nghĩ của dân tộc đó về thế giới bên trong và thế giới chung quanh, là những phẩm chất đặc thù đã được tôi luyện, rèn giũa và được tái tạo trong cuộc sống hôm nay thì song song ta cũng đã động chạm đến tính đương đại và cách ứng xử của một dân tộc đối với cuộc sống hiện đại.

Nhà văn cũng có thể phản ánh Việt Nam qua bối cảnh nước ngoài, đề đạt thế giới bên ngoài trong bối cảnh Việt Nam. Nói như vậy không có tức là văn học - nghệ thuật Việt Nam không còn gì cần nối luận bàn, bàn bạc nữa. Ư 5 khóa VIII ra đời đã nêu rõ, văn học - nghệ thuật là lĩnh vực rất quan yếu, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu biểu lộ khát vọng chân, thiện, mỹ của con người là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.

Những quan điểm khác nhau, nhiều khi đối nghịch nhau chỉ được giải tỏa song hành với tư duy tầng lớp và sự phát triển của văn chương - nghệ thuật. Quyết nghị đã phản ánh một bước trưởng thành mới về tư duy của Đảng và Nhà nước ta về văn chương - nghệ thuật, tạo được một chuyển biến quan yếu trong thực tại lý luận và sáng tác văn học - nghệ thuật nước ta. Từ những lúng túng về nhận thức, đã có lúc chúng ta phần nào đi đến những sai trái về lý luận, cổ súy cho quan niệm "bình cũ, rượu mới", thực chất là tách nội dung ra khỏi hình thức, tách dân tộc ra khỏi đương đại, từ đó xếp tính dân tộc xuống hàng thứ hai một cách khiên cưỡng, siêu hình.

PGS, TS VŨ DUY THÔNG. Xây dựng một nền văn hóa của dân tộc, vì dân tộc, thu nạp có chọn lựa tinh hoa văn hóa thế giới là đúng, nhưng chẻ ra từng khái niệm thế nào bản sắc dân tộc, thế này hấp thu có tuyển lựa.

Nhưng nói thế, không có tức là những vấn đề lý luận cũng như thực tế của hai phạm trù dân tộc và đương đại lâu nay vẫn dẫm chân tại chỗ, trái lại nó đã có bước tiến rất dài về nhận thức và không chỉ về nhận thức mà còn được biểu thị trong sáng tác, lý luận phê bình và trong cả dịch thuật ở một chừng đỗi nào đó. Nhưng Đề cương văn hóa Việt Nam chưa giảng giải cụ thể từng khái niệm khoa học, dân tộc, đại chúng là thế nào.

Dân tộc và đương đại là hai vấn đề từng gây nhiều tranh cãi trong văn học - nghệ thuật. Quyết nghị đã giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề như tính dân tộc và tính hiện đại là một thực thể văn hóa động, xoành xoạch đào thải và bồi đắp; quan hệ giữa hai phạm trù đó là sống động, biện chứng và luôn bổ sung cho nhau; tính dân tộc không chỉ là chứng chỉ của một cộng đồng trước nhân loại mà còn là một bộ phận cấu thành nhân loại, dân tộc không tách rời nhân loại và trái lại không có một nhân loại chung chung, tách khỏi dân tộc.

Vấn đề dân tộc cũng vậy. Trong văn xuôi, người ta thấy vắng bóng dần những nhân vật chính của thời đại, càng ngày càng nhiều những nhân vật bế tắc, đơn chiếc, nổi loạn hay những con người nhỏ bé.

Với định hướng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, các nhà văn cũng như nghệ sĩ nói chung tĩnh tâm, tự tín thuần khiết tạo, hấp thụ có lựa chọn tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời khai thác triệt để tinh hoa truyền thống để làm nên những tác phẩm mới hơn, có giá trị hơn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét